HÀNH ĐỘNG VÀ CHỊU ĐAU KHỔ RÈN LUYỆN NIỀM HY VỌNG – Đề tài tĩnh tâm tháng 7.2022

II. ĐAU KHỔ, RÈN LUYỆN NIỀM HY VỌNG.

Đức Thánh Cha Benedicto XVI xác quyết rằng: “Niềm tin vào Chúa Kitô mang lại một niềm hy vọng ơn Cứu Độ đời đời, niềm hy vọng này có nền tảng vững chắc và nâng đỡ chúng ta qua những thăng trầm của thế giới”. “Đau Khổ” ở đây thật là phù hợp để chỉ ra cách thế, qua đó đau khổ hình thành một phần của cuộc sống con người và đóng góp vào sự cao cả của con người nhờ kết hợp với cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô.

1. Bản chất của đau khổ và tội lỗi.

Theo sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo: đau khổ là một phần của cuộc sống con người. Nó xuất phát từ những giới hạn và tội lỗi của chúng ta, đã tích luỹ suốt dòng lịch sử, và ngày nay vẫn đang tiếp tục lớn lên không ngừng[15].

2. Thái độ của con người trước đau khổ và tội lỗi.

Con người mọi thời đại đang cố gắng làm bất cứ điều gì trong khả năng để giảm bớt đau khổ cho người vô tội, làm giảm nhẹ cơn đau đớn và giúp vượt thắng các đau khổ tinh thần. Đó là những đòi buộc của công bình và bác ái trong mọi cuộc sống nhân bản đích thực, và cũng là đòi hỏi nền tảng của đời sống Kitô hữu. Theo Đức Thánh Cha Benedicto XVI: “Sự cộng tác của khoa học không những không làm giảm bớt nỗi đau khổ của người vô tội mà lại gia tăng những đớn đau tinh thần trong những thập niên vừa qua” [16].

Quả thế, việc loại trừ đau khổ khỏi thế giới là việc vượt quá tầm tay chúng ta. Đơn giản là vì chúng ta giới hạn và không có khả năng loại trừ quyền lực của sự dữ và tội lỗi, vốn là nguồn mạch của đau khổ[17]. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể làm điều ấy[18]: Ngài đã tự ý đi vào lịch sử khi làm người và chịu đau khổ trong lịch sử. Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa hiện hữu, và vì thế, quyền năng “xoá bỏ tội trần gian”[19] vẫn đang hiện hữu trong thế giới. Nhờ tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa mà chúng ta hy vọng về một thế giới sẽ được chữa lành. Mặc dầu hy vọng chưa được hoàn thành nhưng vẫn mang lại cho ta một niềm hy vọng giúp chúng ta vượt qua những đau khổ và hướng về phía sự thiện.

3. Mầu Nhiệm Thập Giá của Đức Giêsu là điểm tựa cho người đau khổ.

Chúng ta có thể giới hạn đau khổ, chiến đấu chống lại nó, nhưng không thể loại trừ nó. Trong thực tế, đôi khi chúng ta đánh mất ý nghĩa của cuộc sống khi chúng ta đang cố gắng rút lui tránh khỏi những gì có thể gây tổn thương, bởi lẽ chúng ta được chữa lành không phải là do chúng ta trốn tránh khỏi sự khổ đau, nhưng là do khả năng của chúng ta chấp nhận nó, trưởng thành với nó và tìm ra ý nghĩa qua việc kết hợp với mầu nhiệm thương khó của Chúa Kitô.

Trong ý nghĩa này, Đức Thánh Cha Benedicto XVI đề cao gương Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, Tử Đạo Việt Nam. Chỉ trong Mầu Nhiệm Tử nạn và Phục sinh của Chúa Kitô mới có sức biến đổi sự tối tăm của họ thành ánh sáng. Sự đau khổ bởi hành hạ – tra tấn vẫn còn thật khủng khiếp, nhưng ánh sao của niềm hy vọng đã vươn lên – chiếc neo của trái tim đã chiếm được tình yêu của Thiên Chúa. Thay vì sự dữ hành hạ trong thân xác con người, thì ánh sáng tỏa chiếu vinh quang: bởi lẽ, khổ đau – không ngừng là khổ đau – nhưng tất cả mọi sự đang trở nên bài ca tụng ngợi khen Thiên Chúa[20].

III. MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA ĐAU KHỔ VÀ NGƯỜI ĐAU KHỔ.

Ngôi Lời Nhập Thể có một mối tương quan đặc biệt với những đau khổ của chúng ta. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy rằng: “Thiên Chúa – Sự Thật Và Tình Yêu nhập thể – tham dự và thông phần với sự đau khổ của chúng ta, vì Ngài muốn đau khổ cho con người và với con người”[21]. Thánh Benado cũng nói: “Thiên Chúa không thể đau khổ, nhưng Người có thể đau khổ với chúng ta”.

1. Đau khổ Và Niềm Hy Vọng.

  • Đau khổ, một hành trình của niềm hy vọng.

Một xã hội không thể đón nhận các thành viên đau khổ và không thể giúp chia sẻ đau khổ của họ và mang lấy nó vào trong tâm hồn qua thái độ “đồng cảm” là một xã hội tàn bạo và vô nhân đạo[22]. Tuy nhiên, xã hội không thể đón nhận các thành viên đau khổ và nâng đỡ họ trong thử thách trừ khi các cá nhân có khả năng tự mình làm điều ấy. Hơn nữa, cá nhân không thể đón nhận đau khổ của nhau trừ khi chính cá nhân ấy có khả năng tìm thấy ý nghĩa trong đau khổ, một con đường thanh luyện và tăng trưởng trong sự trưởng thành, một hành trình của niềm hy vọng.

  • Mang gánh nặng cho nhau[23].

Quả thế, chấp nhận người khác đang đau khổ, có nghĩa là tôi mang lấy đau khổ của người ấy như thể nó trở thành là của tôi. Bấy giờ nó trở thành một đau khổ được chia sớt, trong đó có sự hiện diện của một người khác, đau khổ ấy được hiểu thấu nhờ ánh sáng của tình yêu. Nó gợi lên sự hiện diện với người khác trong sự cô đơn của họ, hầu nó không còn là sự cô đơn nữa mà là một niềm hy vọng được thắp lên[24].

  • Chấp nhận sự cắt tỉa vì tình yêu.

Khả năng chấp nhận đau khổ vì sự thiện, chân lý và công bình là một tiêu chuẩn cốt yếu của tính nhân văn, bởi vì nếu rốt cuộc hạnh phúc và an toàn của bản thân tôi quan trọng hơn chân lý và công bình, thì quyền lực của kẻ mạnh sẽ thắng, và rồi bạo lực và gian dối vẫn ngự trị. Lại nữa, tiếng “xin vâng” với tình yêu cũng là nguồn mạch của đau khổ, bởi vì tình yêu luôn đòi truất hữu cái “Tôi”, qua đó tôi để mình bị cắt tỉa và bị thương tích. Tình yêu không thể hiện hữu nếu không từ khước chính mình, một sự từ khước đau đớn, bằng không nó sẽ trở thành ích kỷ và vì thế không còn là tình yêu nữa.

2. Người Đau Khổ Và Niềm Hy Vọng.

  • Lý do chấp nhận đau khổ.

Đau khổ với kẻ khác và cho kẻ khác; đau khổ vì sự thật và công lý; đau khổ vì tình yêu và để trở nên một người biết yêu thương thực sự – đó là những yếu tố căn bản của nhân loại, và nếu loại bỏ những yếu tố này thì sẽ hủy diệt chính con người.

Tuy nhiên, một loạt câu hỏi lại được Thông Điệp Spe Salvi[25] nêu ra:

Chúng ta có khả năng này không?

Người ta có quan trọng đến mức tôi phải chịu đau khổ vì họ không?

Đối với tôi, sự thật có đáng để đau khổ và có giá trị không?

Lời hứa của tình yêu có cao cả đến mức tôi phải hy sinh chính mình không?

Tuy nhiên, trong lịch sử của nhân loại, chính sự xác tín vào niềm hy vọng Kitô giáo có một công lực đặc biệt giúp con người có một khả năng mới và sâu xa, dám chấp nhận những hình thái đau khổ có tính chất quyết định đối với tính nhân bản của con người.

  • Sức mạnh của niềm hy vọng Kitô giáo.

Đức tin Kitô Giáo đã cho chúng ta thấy rằng: sự thật, công lý và tình yêu không chỉ đơn thuần là những lý tưởng, nhưng là những thực tại giá trị to lớn. Đức tin Kitô Giáo cho thấy Thiên Chúa – hiện thân của Sự Thật và Tình Yêu – đã muốn chịu đau khổ vì chúng ta và với chúng ta[26].

Thánh Benado đã nói: “Thiên Chúa không thể đau khổ, nhưng Ngài có thể đau khổ với chúng ta”. Con người chúng ta đáng giá đến mức chính Thiên Chúa đã trở thành phàm nhân để đau khổ với con người trong một cách thế rất thật, như đã được trình bày trong các trình thuật Tin Mừng về cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu. Thành ra, trong mọi đau khổ nhân sinh, chúng ta được liên kết với Đấng chịu và gánh lấy đau khổ với chúng ta; nên sự “An Ủi” hiện diện nơi tất cả đau khổ, như là lòng yêu thương của Chúa – và vì thế niềm hy vọng được triển nở.

  • Phần thưởng của niềm hy vọng.

Chắc chắn trong những đau khổ và thử thách đa dạng, chúng ta luôn cần đến những hy vọng lớn nhỏ: như một cuộc thăm viếng thân tình, một sự chữa lành tinh thần và thể xác, một quyết tâm thuận lợi giải quyết một cuộc khủng hoảng, v.v. Thật thế, những hình thái hy vọng này cũng có thể là đủ so với những thử thách ít nghiêm trọng. Nhưng trong những thử thách thực sự cam go, khi tôi phải đưa ra một quyết định chung cuộc, để đặt sự thật trước phúc lợi, sự nghiệp và của cải của chính mình, tôi cần đến sự xác tín của niềm hy vọng thực sự và to lớn mà chúng ta đã đề cập nơi đây[27].

Về điểm này, chúng ta cần đến những chứng nhân – những vị tử đạo – những người đã cho đi chính mình, để ngày qua ngày chỉ ra cho chúng ta thấy đâu là “Chính Lộ”. Chúng ta cần đến họ nếu chúng ta ưa chuộng điều thiện hơn sự thoải mái, ngay cả trong những lựa chọn nhỏ nhặt mà chúng ta đối diện hàng ngày – khi biết rằng đó là cách để chúng ta sống đời mình cho viên mãn. Chúng ta hãy lặp lại lần nữa: khả năng chịu đau khổ vì sự thật là thước đo tính nhân bản. Nhưng khả năng chịu đựng này tùy thuộc vào hình thái và quy mô của niềm hy vọng mà chúng ta đang cưu mang và ấp ủ trong lòng. Các thánh đã có thể trải qua một cuộc lữ hành trần thế cao đẹp trong cách thức mà Chúa Kitô đã thực thi trước các ngài, vì họ tràn trề niềm hy vọng vào một Thiên Chúa Tình Yêu[28].

 Thay Lời Kết

Căn cứ vào lời giáo huấn của Đức Thánh Cha Benedicto XVI trong Thông Điệp Spe Salvi từ số 35 đến số 40, chúng ta có thể dám nói rằng: con người không thể sống mà không có niềm hy vọng, cho dù cuộc sống ấy có trải dài trên những kinh nghiệm đau thương, thì chúng ta cũng cậy trông vào ơn Chúa để sống một cuộc sống thật ý nghĩa với những hành động nghiêm chỉnh, vì chúng ta “phải luôn luôn trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của mình”[29]. Niềm hy vọng đích thực vượt trên tất cả mọi hy vọng khác, không phải vì của cải vật chất, mà là Thiên Chúa. Đại dịch Covid-19 đã gây thiệt hại nặng nề cho nhiều người trên thế giới, về phương diện kinh tế, cá nhân, đạo đức và kể cả đời sống tu trì. Trong bối cảnh bi đát đó đã làm cho nhiều người đặt hy vọng vào các nhà chính trị và khoa học, nhưng liệu nó có xứng đáng không hay chỉ là điều gây vỡ mộng?[30] Niềm hy vọng Kitô giáo đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận những khó khăn hiện tại và không thất vọng. Chúng ta phải hành động theo cách xứng đáng và không thể tách biệt hy vọng khỏi hành vi nhân đức. Platon cũng nói: “Hy vọng là sống chết với việc theo đuổi công lý và các nhân đức” [31]. Theo Đức Thánh Cha Benedicto XVI: “Tình yêu phải luôn gắn liền với hy vọng. Một cuộc sống hời hợt vô luân sẽ hủy diệt niềm hy vọng”. Và vì vậy, thời điểm hiện tại vẫn là một cơ hội tốt để chúng ta hy vọng, một niềm hy vọng cá vị, vì nó được sinh ra trong cuộc gặp gỡ cá vị với một con người, Đấng là Tình Yêu, Sự Thật, và Tự Do. Nói tắt một lời: đó chính là Thiên Chúa.

Niềm hy vọng Kitô giáo là một quà tặng, là một người bạn đồng hành, hướng dẫn chúng ta vượt qua những đau khổ để thực hiện tốt một đời sống có tính nhân văn hơn. Nói cách khác, hành động và chịu đau khổ kết hợp với cuộc thương khó của Chúa Giêsu Kitô tạo ra một môi trường tốt để thực tập và rèn luyện niềm hy vọng. Bởi vì “tất cả mọi hoạt động nghiêm chỉnh và đúng đắn của con người đều là hy vọng trong hành động”. Nhờ hành động đúng đắn, chúng ta có thể mời Thiên Chúa đến với chúng ta và nhân loại. Bởi vì chỉ có Đức Kitô, Đấng xóa bỏ tội trần gian, đã mở màn cho cuộc kết thúc đau khổ trên trần gian: Người đã đi xuống tận vực thẳm của đau khổ, đã đứng về phía những người chịu đau khổ. Tuy nhiên, cuộc đẩy lui đau khổ trên trần gian mới chỉ khởi đầu chứ chưa hoàn tất. Mỗi người chúng ta được mời gọi hãy kết hợp với cuộc đẩy lui sự dữ, một cuộc chiến không chỉ diễn ra bằng hành động mà thôi, nhưng còn bằng cách mang một ý nghĩa cho đau khổ nhờ việc dâng hiến nó như Đức Kitô đã làm[32]. Khi liên kết hành động và chịu đau khổ, Đức Thánh Cha Benedicto XVI đã mở ra một chỗ hy vọng cho những người “không có bàn tay” để thay đổi thế giới bằng hành động, những người “không được đếm xỉa” trong các kế hoạch hiệu năng. Những kẻ bề ngoài xem ra “không có khả năng để làm gì cả”…, vẫn có thể kết hợp với hành động cao cả của Thập giá Đức Kitô; vẫn hy vọng vào dự tiệc trong Nước Thiên Chúa là phần thưởng mà Thiên Chúa đã hứa ban cho những ai tùng phục và yêu mến Người.

Đừng để mất niềm hy vọng. “Hãy nắm giữ niềm hy vọng dành cho chúng ta” (Dt 6, 18).

Vấn nạn được đặt ra giúp chúng ta suy nghĩ và cầu nguyện trong ngày tính tâm:

Theo Đức Thánh Cha Benedicto XVI: “Một lời nói, một ý kiến, một hành động không nghiêm chỉnh và đúng đắn, sẽ là sự khủng bố cuộc đời người anh em, và sẽ giết chết niềm hy vọng của họ”. Bạn có suy nghĩ gì về điều này và áp dụng vào đời sống Đan tu của mình ?

FR. M. Bartholomeo Nguyễn Đình Liệu Ocist

****

[1] X. Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội. số 48.

[2] X. Ep 4,29-32.

[3] Ga 17,16; x.1 Cr 7,29-31; 2Cr 6,8-10.

[4] Cha Juan Pablo Ledesma-Đại Học Regina Apostolorum. Nhận định về thông điệp Spe Salvi của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI.

[5] Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI. Buổi tiếp kiến chung ngày 25-10-2016.

[6] ĐTC Benedicto XVI. Thông Điệp Spe Salvy. 30/11/2007. Số 35; x.Dnl 5,13.

[7] X. Rm 15,1-3.

[8] X. Gr 22,13tt; Am 5,10-13; Xh 1,8-14; 5,6-18.

[9] ĐTC Benedicto XVI. Thông Điệp Spe Salvy. 30/11/2007. Số 35.

[10] X. Sách GLHTCG số 2007; 2008.

[11] ĐTC Benedicto XVI. Thông Điệp Spe Salvy. 30/11/2007. Số 35

[12] ĐTC Benedicto XVI. Thông Điệp Spe Salvy. 30/11/2007. Số 35; x.1Cr 3,9; 1Th 3,2.

[13] “Giải thoát” bằng một hành động đúng đắn và nghiêm chỉnh.

[14] X. Sách GLHTCG số 702; 705; 706; X. St 2,1; 9, 1-17; Dt 11,1.16; 1Ga 2,25.

[15] X. Sách GLHTCG số 311; 385; 418.

[16] ĐTC Benedicto XVI. Thông Điệp Spe Salvy. 30/11/2007. Số 36.

[17] X. Sách GLHTCG số 385.

[18] X. Sách GLHTCG số 1748.

[19] Ga 1,29.

[20] ĐTC Benedicto XVI. Thông Điệp Spe Salvy. 30/11/2007. Số 37.

[21] X. Sách GLHTCG số 385.

[22] X. Sách GLHTCG số 1939.

[23] Gl 6,2.

[24] X. Sách GLHTCG số 1939.

[25] ĐTC Benedicto XVI. Thông Điệp Spe Salvy. 30/11/2007. Số 39.

[26] Sách GLHTCG số 219; x.Ga 3,16; 1Ga 4,8.16.

[27] X. 1Tm2,4.

[28] ĐTC Benedicto XVI. Thông Điệp Spe Salvy. 30/11/2007. Số 39; x. 2Cr 1,20.

[29] 1Pr 3,15.

[30] ĐTC Benedicto XVI. Thông Điệp Spe Salvy. 30/11/2007. Số 35; số 36.

[31] Đức Thánh Cha Phanxicô. Buổi tiếp kiến chung. Thứ Tư, 09-06-2021.

[32] ĐTC Benedicto XVI. Thông Điệp Spe Salvy. 30/11/2007. Số 40.

You May Also Like

Trả lời

X